Thứ hai, 11.07.2011 GMT+7

KINH DỊCH CỦA ĐẠO NGƯỜI QUÂN TỬ

KINH DỊCH CỦA ĐẠO NGƯỜI QUÂN TỬ

Từ Đời Thượng cổ thánh nhân

bắt đầu vạch ra bát quái (tám quẻ)

đạo của tam tài đủ rồi, nhân đó lại

 trùng quái (chồng lên nhau) cho hết

 các sự biến đổi của gầm trời,

 cho nên 6 vạch thành một quẻ.

 

 


KINH DỊCH CỦA ĐẠO NGƯỜI QUÂN TỬ

Từ Đời Thượng cổ thánh nhân

bắt đầu vạch ra bát quái (tám quẻ)

đạo của tam tài đủ rồi, nhân đó lại

 trùng quái (chồng lên nhau) cho hết              

 các sự biến đổi của gầm trời,

 cho nên 6 vạch thành một quẻ.

http://thegioithuocgiamcan.vn/, http://thegioithuocgiamcan.vn/tags/cach-giam-can-nhanh-nhat.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/tags/cach-giam-can-hieu-qua.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/bi-quyet-giam-can-nhanh.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/thuc-don-giam-can.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/phuong-phap-giam-can.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/thuc-pham-chuc-nang.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/cach-giam-beo-bung.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/tags/thuoc-giam-beo-nhanh.html, http://revitalashvietnam.com/, http://thuocgiamcanbestslim.com/, http://cuacuontot.com/, http://cuacuontot.com/cua-cuon-austdoor.html, http://cuacuontot.com/cua-cuon-eurodoor.html, http://cuacuontot.com/cua-cuon-khe-thoang-dmspc120.html, http://cuacuontot.com/sua-cua-cuon-tai-ha-noi-dmspc125.html

                                                                 Cao Từ Linh

     Quẻ Càn 乾☰             

Hai quẻ Càn trồng lên nhau là quẻ Thuần Càn. Chữ Càn chỉ về hình thể và tính tình của trời là Càn, là mạnh, mạnh mà không nghỉ gọi là càn.

Trời gộp lại là “Đạo” cái mà trời cũng không thể sai trái, nếu nói tách ra thì phần hìnhthể gọi là trời về phần chủ thể gọi là ĐẾ, về phần công dụng gọi là Quỉ thần, về phần diệu dụng gọi là Thần về ophần tính tình gọi là Càn. Càn là đầu muôn vật cho nên là trời dương, là cha, là vua. Nguyên hanh lợi trinh là 4 đức tính: Nguyên là muôn vật bắt đầu, hanhlà muôn vật lớn lên, lợi là muôn vật được thoả, trinh là muôn vật đã thành. Chỉ Càn và Khôn có 4 đức ấy, còn ở quẻ khác thì nó  tuỳ việc mà thay đổi đi. Cho nên Nguyên là chuyệnlàm những việc lớn, lợi thì chủ về các việc chính bền, Thể của hanh trinh việc nào xứng với việc ấy, ý nghĩa của 4 đức ấy thật rộng lớn.

Thoán là nói về nghĩa một quẻ cho nên bậc trí giả cứ xem lời thoán thì đã nghĩ được quá nửa. “Lớn thay Càn nguyên” là khen sự lớn lao trong việc khởi đầu muôn vật của đạo Càn. “Nguyên” trong 4 đức tính cũng như “Nhân” trong 5 đạo thường, nói riêng thì là một việc, nói rộng thì nó bao hàm tất cả bốn thứ. “Muôn vật nhờ nó khởi đầu, bèn tóm việc trời” là nói về “nguyên”. Hai chữ “Càn Nguyên” là nói gồm cả đạo trời. Đạo trời khởi đầu muôn vật, muôn vậtnhờ sự khởi đầu của trời. “Mây đi mưa tưới sắp đặt các vậtlưu chuyển các hình “là nói về “hanh” nghĩa là đạo trời vận hành sinh nuôi tất cả các vật. Làm cho rõ đầu cuối của đạo trời thì thấy 6 ngôi trong quẻ đều theo thời vận nó mà thành. Đầu cuối của quẻ tức là đầu cuối của đạo trời. Nhân thời vận của 6 hào ấy tức thời vận của trời “để ngự đường trời” tức là để dương vào đạo trời.

Đạo Càn biến hoá sinh nuôi muôn vật, lớn nhỏ cao thấp vật nào theo loài vật ấy đó là “đều được tính mệnh”. Cái của trời cho là mệnh, cái của các vật nhận được tính là. “Giữ khí thái hoà luôn bền được lợi trinh”. Giữ là làm cho, còn luôn hợp là làm cho hoà luôn hoà cho nên mới lợi và trinh. Đạo của trời đó mà Càn đứng đầu trong 64 quẻ dịch vậy.

1.                       Cách:

Quẻ Càn có cách “Khốn long đắc thuỷ” - rồng nơi khô gặp nước.

Chỉ tốt cho bậc Vua chúa, các bậc đại nhân quân tử, những người có trọng nhiệm lớn (tư duy cao, đức lớn).

2.                       Tượng:

Tượng của quẻ Càn là “Thiên hành kiện” - Nghĩa là Trời đi rất mạnh, trời đi vào quĩ đạo.

Tượng của sự lớn mạnh. Dự trữ năng lượng lớn (khi công việc đang dừng lại). Cỗ máy sẽ chạy nhanh không có vật cản.

Dịch tư:

Ông vua đầy đủ uy lực nhưng chưa đội vương miện

3.                       Nghĩa.

- Sức mạnh, cứng rắn (vỡ thuần dương) Vì vậy chỉ thích hợp cho những việc lớn, việc đại sự đòi hỏi phải giải quyết một cách cứng rắn, không nhân nhượng (giả như hỏi về việc hôn nhân gia đình lại là không có lợi vậy). Nếu việc cần sức mạnh là thành công. Càn là động. Thẳng thắn (việc chân chính, trung chính mới tốt), tròn trĩnh (tượng vật hình tròn). Phi quân tử bất thành Càn. Do Càn chỉ sự quân tử, trong sáng, đẹp đẽ, vậy nên nếu làm việc không chính đáng ra Càn là xấu.

Sự chỉ huy, thống lĩnh, đứng đầu (Càn là Thiên khôi chủ người đứng đầu, nếu tâịnn thì bị thương ở đầu…), con trưởng.

4.                       Soán:

Trong kinh dịch lời Soán của quẻ Càn nói rằng: “Càn nguyên hanh lợi trinh”. Ban đầu gặp khó khăn, đúng theo bản chất mà làm đó là chữ Nguyên, khi tiến hành có sự vận động, sẽ đem lại được thành quả. Muốn thành công được phải đi qua được Nguyên -Hanh lợi mà chung thuỷ từ trước đến sau - chữ Trinh. Do vậy người bình thường không gánh nổi, quẻ Càn là quẻ đứng đầu, được hanh thông nhưng chỉ dành cho người cấp bậc to, địa vị xã hội lớn. Dân thường (ba hào dưới), buôn bán, cấp bậc nhỏ gặp Càn là hoạ.

Động hào 1:THUẦN CÀN BIẾN THIÊN PHONG CẤU

Khí quẻ đơn Hoạ hại thổ (-) biến khí quẻ kép Sinh khí Mộc (+): mộc Sinh khí đủ khắc chết thổ Hoạ hại. Quẻ cấu xét theo Tuỳ hỗ chính là quẻ Tốn đơn vì vậy Mộc ở đây thịnh vượng (gọilà Mộc già).

Văn Vương: “Tiềm long vật dụng” - Rồng ẩn chớ dùng.

Sơ là hào 1, cửu là số dương đã thịnh cực cho nên dùng để đặt tên là hào dương. Lý vốn là vật vô hình nên phải mượn tượng làm cho rõ nghĩa. Càn lấy con rồng làm tượng, rồng là loài vật thiêng liêng biến háo không thể lường được, cho nên dùng để hình dung sự biến hoá của đạo Càn, sự tiêu tức của khí dương và sự tiến lui của thánh nhân. Hào 1 dương ở cuối một quẻ là đầu các vật, khí dương dương sinh, thánh nhân còn hàn vi cũng như rồng còn lặn ngụp chưa thể tự ra làm việc phải náu kín đợi thời.

Rồng còn ẩn mình chưa dùng được, nghĩa là chưa nên dùng. Động hào 1 rất đẹp nhưng là cái đẹp của sự tĩnh: chỉ phương hướng hành động, là ta nên phải tĩnh, đừng manh động, đủ cất nhưng phải chờ thời cơ. động sẽ hỏng. “Ngậm miệng ăn tiền”. Ví như bầu cử đừng vội đưa ra lấy phiếu tín nhiệm sẽ hỏng, phải chờ.

Động hào 2:THUẦN CÀN BIẾN THIÊN HOẢ ĐỒNG NHÂN.

Khí quẻ Tuyệt Kim (-) biến Sinh khí Mộc (+): Kim yếu trong khi Mộc có đủ cả Mộc  (+) và Mộc (-) thừa vũ nên khắc lạiTuyệt Kim.

Đồng Nhân là quẻ của người nghèo, chỉ có người nghèo mới đúng ý nghĩa củanó. Hào 2 của quẻ Càn là tượng vui vẻ vậy.

Văn Vương: “Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân”.

Rồng hiện ở đồng, lợi về việc gặp bậc đại nhân.

Ruộng là lớp trên mặt đất, xuất hiện ở trên mặt đất thì đức đã tỏ, lợi về sự được gặp ông Vua có đức lớn để thực hành đạo lý của mình. Ông Vua cũng lợi về sự gặp được bề tôi có đức lớn để làm thành công nghiệp của mình. Người trong thiên hạ thì lơịi về sự gặp được người đức lớn để gội tưới ân huệ của họ. Ông vua đức lớn tức hào 5 dương, Càn, không là quẻ thuần tuý không phân biệt cương nhu mà lấy cái đức giống nhau để ứng nhau.

Rồng đã hiện lên trên mặt ruộng nhưng phải gặp được đại nhân, tức là phải gặp những bậc quân tử, có chức sắc, có học… thì mới tốt. Còn chưa gặp đại nhân thì chưa được việc gì.

Dùng lòng thành cảm hoá người đời mà không khoe khoang, đức ảnh hưởng rộng rãi mới là cát. Đang làm vua thì phải gặp nhân tài chí sĩ và thu nạp người đó. Đang là quan sẽ thăng chức. Phải biết hoà hợp Đồng nhân, phải biết cơ chế dùng người, giữ “trung và chính”.

Gỉa như: - Mua nhà: thẳng thắn đến gặp không úp mở, sẽ thành công. Nếu có sự gian dối không tốt.

- Xin việc: Phải trung và chính, đến phải giữ lễ phép nhưng phải giữ thế của mình. Phải nói thẳng, đòi hỏi sự chân thành.

- Hôn nhân: Nam hỏi thì tốt, đồng nhân là đông vui. Nữ hỏi thì không tốt lắm, dễ bị điều tiếng.

- Xuất hành: Mới đầu khó, sau dễ, vui vẻ.

Tiêu Diên Thọ: mẹ đi kiếm  mồi nuôi con.

Động hào 3:THUẦN CÀN BIẾN THIÊN TRẠCH LÝ

Khi quẻ sinh khí Mộc (+) biến Ngũ quỷ Hoả: Mộc sinh hoả, Cát khí sinh cho hung khí như thế thì quẻ đang từ đẹp thành xấu.

Quẻ Lý là quẻ dấn thân, phải làm lễ. Phải chăm chỉ làm việc vất vả gian khó mới thành, không chịu vận động, hoạt bát, nhậy bén thì việc không thành.

Văn Vương: “Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch tịch nhược lệ, vô cữu”. Quaâ tử bận rộng suốt ngày đêm, tâm tư lo lắng (nguy) nhưng không có lỗi.

Hào 3 dương tuy là ngôi của người nhưng đã ở trên thể dưới (quẻ dưới) chưa lìa khỏi bậc dưới mà được tôn hiền. Suốt ngày đến tối không dám trễn nải mà vẫn nơm nớp lo sợ thì dù ở chỗ hiểm nghèo cũng không có lỗi. Kẻ ở ngôi dưới mà đức làm vua đã rõ, thiên hạ sắp sửa theo về đủ thấy là đáng lo sợ. Tuy nói về việc thánh nhân nhưng nếu không đặt ra lời răn dỗ thì còn lấy gì làm sự dạy người? Đó là cái nghĩa làm ra Kinh Dịch.

Lời từ rất hợp với khí. Lằng nhằng không quyết được.

Động hào 3 - Tam đa hung, xấu. Không có lỗi nghĩa là không phải lỗi tại mình.

Giả như hỏi về Hôn nhân; rất yêu nhau nhưng lại cũng rất hay mâu thuẫn, hục hoặc nhau mà thật ra thì không ai có lỗi. Hay như trong việc làm ăn:

Động hào 4:THUẦN CÀN BIẾN PHONG THIÊN TIỂU SÚC.

Khí quẻ Hoạ hại Thổ (-) biến Sinh khí Mộc (+). Mộc khắc thổ, Cát khí khắc hung khí, tuy khắc được nhưng tiết khí, giảm phúc. Tuy nhiên do ở đây khí Mộc thực mà khí Hoạ hại Thổ ảo nên trong thực tế không bị tiết giảm khí nên vẫn chỉ sự yên ổn thành công.

Văn Vương: “Hoặc dược đại uyên, vô cữu”- Rồng bay chập chờn trên vực, không có lỗi.

Vực là chỗ của rồng ở. Hoặc là tiếng nghi ngờ nghĩa là không hẳn. Nhả hay không chỉ cốt kịp thời để tới chỗ yên ổn. Thánh nhân hành động không việc gì mà không phải thời.

Vào hoàn cảnh này người quân tử phải đưa ra một quyết định (với việc lớn). Nếu chập chờn là bay rơi xuống vực, quyết định đúng là thành công, rồng bay ra khỏi vực. Sự đúng sai là do đức người quân tử.

Khổng Tử:Tiến hay thoái phải hợp đức, thấy cái gì lợi thì làm. Cái lợi ở đây là tiểu lợi vì biến ra Tiểu súc, lợi nhỏ nằm trong quyết định của ta. Tiểu súc còn có nghĩa là tiếp xúc nhỏ, lợi nhỏ nhưng có vị trí chính đáng.

Tiêu Diên Thọ:Cuộc sống tạo ra phúc đức, sống một cuộc sống sung sướng cứ thế mà đi.

Động hào 5:THUẦN CÀN BIẾN HOẢ THIÊN ĐẠI HỮU

Khí quẻ Tuyệt kim (+) biến Sinh khí Mộc (-). Tuyệt biến Sinh là biến khí hung thành cát. Tuy nhiên ở đaâ chỉ có kim là thực, ngược lại mộc là ảo nên thực chất chỉ là kim, lại kim vượng, kim nhiều, lại được hoả khắc mà thành khí cụ. Vì vậy khí Tuyệt không phải là Tuyệt mệnh là tuyệt thế, tuyệt vời. Vật cùng tắc biến là vậy.

Văn Vương: “Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân”- Rồng bay trên trời, lợi việc gặp các đại nhân.

Đây là tiến lên ngôi trời, thánh nhân đã được ngôi trời thì lợi về sự gặp người đức lớn ở dưới để cùng mình làm việc trong thiên hạ, thiên hạ cũng lợi về sự thấy ông vua đức lớn.

Tượng quẻ chỉ sự có, có rất nhiều, quẻ này tròn trĩnh nhất, có lớn mới là đại hữu, làm gì chẳng được. Rồng bay lên trời (phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân) nhưng vân xphải tìm những người giỏi tài (chiêu hiền đãi sĩ, tìm cộng sự) tức là lợi kiến đại nhân giúp mình “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” thì việc làm sẽ  dễ thành công và thành công rực rỡ.

Nhưng chỉ sự thành công với các bậcd dại nhân và với các việc đại sự mà thôi. Nhưng việc tiểu sự hay những kẻ tiểu nhân khi gặp Hào này vẫn không tốt, không thành.

Tiêu Diên Thọ:Thượng đế chí sinh, phúc lộc mỗi ngày một nhiều, vừa tu đức, đưứcgiáo dục ngày một sáng sủa, yên bình, kinh tế tốt.

Động hào 6:THUẦN CÀN BIẾN TRẠCH THIÊN QUẢI.

Khí quả Sinh khí Mộc (+) biến ngũ Quỷ hoả là Mộc sinh Hoả làm Ngũ quỷ Hoả tăng lên. Nhưng cả Mộc và Hoả đều là khí ảo, ảo sinh cho ảo, liên minh ma quỷ, vì vậy mà nói là biến hung.

Quải là quyết định bỏ đi một cái gì, hào 5 (+) đuổi hào 1 (-) ở trên. Tượng càn biến Quải dồn ép, thúc bách, việc bị dồn ép bắt buộc phải làm mà ta không muốn.

Văn Vương:: “Kháng long hữu hối”. Rồng bay đến tột đỉnh có sự hối hận.

Hào 5 là ngôi cùng tột, trung chính là sự đắc thời tột cùng, quá đó là quá cực. Hào 6 dương trên tới chỗ quá cực cho nên có sự ăn năn. Có lỗi thì có ăn năn, chỉ có thánh nhân biết lẽ tiến, lui, còn mất mà không có lỗi cho nên không đến nỗi ăn năn.

Quải có nghĩa là: nứt, vỡ, vựa: đang tròn như cái vựa bị vỡ, nước tràn ra; Quí mà vô vị nên không nên hành động.Việc gì đến chỗ cùng cực sẽ gặp rủi. Vínhư người đã nghỉ hưu rồi mà còn tham việc, tham vọng quyền lực thì nhất định sẽ có sự hối hận, nghĩ rồi đừng tham việc mà hữu hối, không nên chỉ biết tiến mãi mà không biết bại cũng sẽ hối hận.

Rồng đánh nhau có sự tăm tối, bất trung bất chính, buôn bán thi cử chức quyền đều rất kém.

Tiêu Diên Thọ: (cũng thế). Mất chồng, chết vợ, kẻ có võ bị chết.

Động hào 7:DỤNG CỬU

Văn Vương:“Kiến quần long vụ thủ, cát” - Nhìn thấy rồng nhưng không thấy đầu (vô thủ).

Toàn quẻ Càn cát, nếu động cả 6 hào là đức của trời không xuất hiện dưới hình thức cái đầu. Tượng của sự không cao ngạo trong đời sống (đứng sau rèm chỉ huy), luôn luôn sử xự đúng mực, đúng với vị trí và chức phận của mình lại có lòng bao dung, có tài quán thế nên cát vậy.

Riêng quẻ Càn có hào dụng cửu: khi gặp quẻ Càn không nên giơ đầu ra (tức hào 2, hào 5).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

==============================

Đường dẫn của bản tin này: ./index.php?f=news&do=detail&id=97
© Văn Hóa Phương ĐôngEmail: vinhquangvip@gmail.com