Deprecated: Function ereg_replace() is deprecated in /home/vhphuongdo/domains/vanhoaphuongdong.com.vn/public_html/header.php on line 30 Deprecated: Function ereg_replace() is deprecated in /home/vhphuongdo/domains/vanhoaphuongdong.com.vn/public_html/header.php on line 31 DỊCH HỌC ĐẠI CƯƠNG | DỊCH HỌC | Văn Hóa Phương Đông
Giải đáp
Quảng cáo

web sex

bonline lua dao

Giai phap IMS sex

imsvietnamese sex

webmobilegiare sex

bonline sex

Giai phap IMS lua dao

tracdiamiennam sex

maytracdia-faco sex

maydodac sex

web sex

webmobilegiare lua dao

thiet ke web 24h lua dao

thiet ke web 24h lua dao

mempop lua dao

thiet ke web 24h lua dao

tracdiamiennam lua dao

web sex

maytracdia-faco lua dao

web sex

maydodac lua dao

mempop sex

thiet ke web 24h lua dao

imsvietnamese lua dao

web sex

thiet ke web gia re lua dao

khoa van tay cao cap

DỊCH HỌC ĐẠI CƯƠNG

Thứ sáu, 02.12.2011 12:00

DỊCH HỌC ĐẠI CƯƠNG

                                                                                                   Quan Hoa

Thay cho Lời nói đầu:

Nhà nghiên cứu Richard Wilhelm trong bản dịch Kinh Dịch sang tiếng Đức viết:

http://thegioithuocgiamcan.vn/, http://thegioithuocgiamcan.vn/tags/cach-giam-can-nhanh-nhat.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/tags/cach-giam-can-hieu-qua.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/bi-quyet-giam-can-nhanh.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/thuc-don-giam-can.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/phuong-phap-giam-can.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/thuc-pham-chuc-nang.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/cach-giam-beo-bung.html, http://thegioithuocgiamcan.vn/tags/thuoc-giam-beo-nhanh.html, http://revitalashvietnam.com/, http://thuocgiamcanbestslim.com/, http://cuacuontot.com/, http://cuacuontot.com/cua-cuon-austdoor.html, http://cuacuontot.com/cua-cuon-eurodoor.html, http://cuacuontot.com/cua-cuon-khe-thoang-dmspc120.html, http://cuacuontot.com/sua-cua-cuon-tai-ha-noi-dmspc125.html

“Kinh Dịch, không ai chối cãi được là một trong những cuốn sách quan trọng nhất của Văn học thế giới. Nó manh nha từ thời cổ đại huyền bí. Cho đến ngày hôm nay các nhà thông thái quan trọng nhất của Trung Quốc vẫn còn tìm hiểu về nó. Hầu như tất cả các tư tưởng lớn và quan trọng nhất của một lịch sử 3000 năm ở Trung Quốc, một phần là do cuốn sách này gợi mở, phần khác là muốn lý giải nó, để ta có thể yên tâm nói rằng, trong Kinh Dịch một nền văn minh già dặn nhất của ngàn năm đã được trình bày’ Đạo của Vật lý. Fritjof Capra. 1992.

Hệ nhị phân do nhà toán học Leibnitz tìm ra (đượcd ùng trong các máy tính hiệni nay) có được sự khởi phátl à nhờ ở việc nghiên cứu Bát quái của Trung Quốc. Leibnitz nói: “Tôi không nghĩ điều mới phát hiện là của mình. Sự phát hiện đó đã có ngay trong những bí mật văn tự thời cổ mà Phục Hy, nhà triết học duy nhất và là ông Vua tối cổ của Trung Quốc hơn 3000 năm trước đã lý giải”.

Kinh Dịch tinh hoa triết cổ Đong phương Đông và Tây.Almanch.

NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội - 1997.

“Trong lịch sử văn minh nhân loại có hai quyển sạch lạ đáng chú ý. Một là Thánh Kinh...Một quyển khác là Chu Dịch, quyển đứng đầu trong sách Kinh Chư Gia dùng quan niệm triết học hình thức tư duy và đồ tượng phù hiệu phát triển văn hoá và tư tưởng của dân tộc Trung Hoa... Đặc biệt Chu Dịch trong xã hội hiện đại, sức hấp dẫn của nó không hề bị giảm sút, ngược lại còn toả sáng những màu sắc mới mẻ. Nhà vật lý học hiện đại Mauricefion rất tán thưởng tư tưởng Âm, Dương hỗ trợ bổ sung nhau trong Chu Dịch... Trong hiêện tại và tương lai, văn minh khoa học càng ngày càng thịnh vượng, có thể khiến cho Chu Dịch vẫn tiếp tục sáng chói toả hào quang trên thế giới này”.

Chudịch một tác phẩm Thiên cổ kỳ thư.Almanch.

NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội- 1997.

“Kinhu dịch là sách kinh điển của các nho gia, nên gọi là kinh. Đó là bộ sách đứng đầu của năm kinh. Kinh dịch còn là bản kinh, nó là tác phẩm thống nhất thiên vă, địa lý, nhạc luật, binh pháp, luật làm thơ, thuật toán, tôn giáo vào làm một. Nó còn có tác phẩm lấy số lý tượng chiếm để dự đoán các bí mật bao la trong vũ trụ”.

Trần Viên. Nhập môn Chu Dcịh Dự đoán học.

NXB Văn Hoá Thông tin, 1995.

“... Trong nhiều trào lưu triết học Trung Quốc cổ đại thì phái Âm Dương - Ngũ Hành đã có những đóng góp to lớn trong việc tìm hiểu, giải thích thế giới trên lập trường duy vật với cách nhìn biêện chứng tự phát sơ khai, dựa vào chính tự nhiên để giải thích các hiện tượng của tự nhiên....Tài liệu để nghiên cứu thuyết Âm dương - Ngũ Hành là tác phẩm Kinh Dịch, ý nghĩa về triết lý nhân sinh của Kinh Dịch vô cùng sâu sắc và phong phú. Người ta có thể tiếp cận và khai thác tác phẩm này với nhiều mục đích khác nhau.... Tư tưởng Âm Dương - Ngũ hành còn có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội chẳng những với nhân dân Trung Quốc mà còn vươn tới nhiều dân tộc quốc gia trong khu vực. Ngày nay nhiều nhà khoa học vẫn kinh ngạc trước nội dung sâu sắc, phong phú và thâm thuý của tác phẩm Kinh Dịch”.

Lịch sử Triết học Phương Đong.

Giáo trình đại học - ĐHGTVT 2005

Chương I

Khái luận chung

I. Mối quan hệ giữa con người và vũ trụ.

1. Vũ trụ là một.

Vũ trụ là một hệ thống rộng lớn vô cùng. Các thiên thể, mặt trời, các vì sao, trái đất, vạn vật và con người trong vũ trụ luôn ở trạng thái vận động không ngừng. Sựvận động tuân theo những quy luật nhất đinh, vạn vật trong vũ trụ luôn có quan hệ tương tác ảnh hưởng lẫn nhau, không tách rời nhau. Từ xa xưa các nhà triết học Phương Đông cổ đã nhận ra thủa ban đầu của Vũ trụ là một thể hỗn mang, sau đói xuất hiện Thái cực, rồi từ Thái cực sinh ra Lưỡng nghi là hai khí âm và dương. Khí dương nhẹ bốc lên trên tạo thành trời. Khí âm nặng chìm xuống dưới tạo thành đất. Trời và đất giao hoà nhau sinh ra vạn vật. Điều đó được thể hiện trong câu “Một sinh hai, hai sinh ba, ba  sinh ra tất cả”, đó là nguyên lý Vũ trụ  là một.

Nguyên lý này hoàn toàn đồng nhất với Thuyết Vụ nổ lớn (Big bang) là thuyết hiện đại nhất của khoa học hiện nay. Theo thuyết này, thuở ban đầu của Vũ trụ ở trong trạng thái hỗn độn, trong đó tràn đầy các hạt cơ bản năng lượng cao, thời gian và không gian gián đoạni nên gọi là điểm kỳ dị. Sau vụ nổ lớn 1043 giây, Vũ trụ được sinh ra và giãn nở rất mạnh. Vào 10 - 6 giay sau đó, nhiệt độVũ trụ giảm còn 10 nghìn tỷ độ, các hạt cơ bản và phản hạ tương tác với nahu tạo thành các bức xạ. Sau 3 phút đầu tiên, các hạt nhân nguyên tử ban đầu dần được hình thành. Khi đó Vũ trụ tràn ngập các bức xạ gamma năng lượng cao gọi là Thời đại bức xạ. Thời kỳ này kéo dài khoảng 100 năm. Sau đó 500 nghìn năm, nhiệt độ vũ trụ giảm còn 4000 K, các nguyên tử ban đầu (hiđrô) được hình thành. Rồi trong hàng chục tỷ năm sau các Thiên hà, các Thiên thể, các vì sao, mặt trời, các hành tinh, trái đất và các thực vật, động vật và con người hình thành dần. Thời kỳ đầu vũ  trụ giãn nở rất mạnh, kích thước Vũ trụ tăng rất nhanh gọi là Thời kỳ lạm phát, sau đó tốc độ giãn nở chậm dần làm kích thước tăng chậm. Bán kính của Vũ trụ hiện nay rất lớn theo tính toán là 30 tỷ năm ánh sáng (3 x 1023km).

2. Con người là một tiểu vũ trụ - Thiên địa nhân hợp nhất.

Vũ trụ vô cùng rộng lớn ẩn chứa biết bao điều bí mật, biết bao quá trình phức tạp xảy ra, nhưng các quá trình xảy ra theo những quy luật nhất định. Ví dụ như các hiện tượng ngày đêm, nắng mưa, nóng lạnh, năm tháng, trăng mọc trăng lặn, thuỷ triều lên xuống...Con người mặc dù so với Vũ trụ là vô cùng nhỏ bé nhưng trong nó cũng tràn đầy các quá trình và hiện tượng xảy ra. Các quá trình hiện tượng này phụ thuộc và hoà đồng với các biến đổi của trời đất. Bởi vậy người phương đông cổ gọi “Con người là một tiểu vũ trụ” và “Thiên Địa Nhân hợp nhất”.

Ngày nay các nhà vật lý, y - sinh học và các ngành khoa học khác đã tìm thấy ngày càng nhiều bằng chứng chứng tỏ quan niệm trên của con người phương đông là hoàn toàn chính xác.

Nhịp điệu sinh học của con người là những thể hiện rõ ràng nhất sự thống nhất giữa cơ thể con người và vũ trụ. Khoa học đã phát hiện trong cơ thể có trên 40 quá trình có nhịp điệu theo chu kỳ ngày đêm như thay đổi thân nhiệt, nhịp tim, nhịp điệu trí tuệ, thay đổi thành phần máu... Chu kỳ thể lực, chu kỳ tình cảm, chu kỳ trí tuệ... theo nhịp điệu tháng...Không gian có 8 phương hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông - Bắc, Tây - Bắc, Đông - Nam, Tây - Nam, thì ở con người có 8 mạch: Nhâm, Đốc, Xung, Đới, Âm duy, Dương duy, Âm kiển, Dương kiển. Trời có 10 thiên can, con người có 10 đường kinh: Đởm, Can, Tiểu tràng, Tâm, Vị, Tỳ, Đại tràng, Phế, Bàng quang và Thận. Một năm có 365 ngày, con người có 365 Lạc và 365 khớp...

Như vậy có thể con người là “hình ảnh thu nhỏ của trời đất” như cổ nhân phương đông đã nói “Con người là một tiểu vũ trụ” và “Thiên Địa Nhân hợp nhất”.

II. Nền tảng khoa học xã hội Phương Đông cổ.

Phương Đông là kahí niệm của người Châu Âu tức Phương Tây, chỉ phần đất ở phía đông của họ. Phương Đông từ lâu đã hình thành ba nền văn minh lớn của thế giới là nền Văn minh ả rập, Trung Quốc và Ấn Độ. Ở đây Phương Đông  chúng ta hiểu là nói về Trung Quốc.

1. Vài nét sơ lược về hình thành xã hội Phương Đông cổ.

Lịch sử hình thành một Phương Đông cổ có thể tính từ thời kỳ Tam Hoàng - Ngũ Đế cách đây khoảng bốn ngàn năm về trước. Khi đó cộng đồng người cổ sống ở miền Tây và Tây bắc Trung Quốc ngày nay, định cư dưới chân núi Hoa (nay thuộc Thiểm Tây) và ven sông Hạ gọi là người Hoa Hạ. Xã hội lúc này tồn tại dưới hình thức Công xã Nguyên thuỷ, trên có “Vua” dưới có “trăm quan”, “thứ dân” cùng nhau chung sức xây dựng cuộc sống thuần phác theo tự nhiên, thuận hoà, no ấm.

Thời Tam Hoàng: Theo tương truyền, một phụ nữ rất xinh đẹp ở Hoa Tư một hôm đi qua vùng đầm lấy thấy vết chân rất lớn liền ướm thử chân mình vào, về có mang sinh ra Phục Hy. Vết chân đó là của Thần Sấm một thiên thần nhà trời, nên Phục Hy là Thiên Tử, được Thiên ĐẾ phong làm Vua ở Phương Đông. Nữ Oa là vợ Vua được coi là thần hôn nhân và là thuỷ tổ của bành dân thiên hạ. Phục Hy đã dạy dân đan lát, làm đồ gốm, làm dưới bẫy, bện thừng, dùng lửa nấu chín thức ăn, chế tạo đàn sắt 50 dây… Ông đã vạch các nét liền và đứt tạo thành Bát quái để ghi lại các hiện tượng, sự việc trong trời đất. Thần Nông cai quản phía Nam dạy dân cày cấy, trồng ngũ cốc, mở chợ, lập làng, tính giờ trong ngày theo bóng nắng, tìm ra các loại cây cỏ làm thuốc chữa bệnh…

Thời Ngũ Đế: Thời Ngũ Đế bao gồm các đời Vua: Hoàng Đế, Đế Cao Dương, Đế Cốc, Đế Nghiêu và Đế Thuấn. Các đời vua này rất nhân từ và có nhiều công trạng. Người dân biết làm nhà cửa, xe thuyền, áo mũ, vũ khí, nhạc khí, đặt ra chữ viết, và có nhiều bài thuốc theo đơn rất công hiệu. Sau đó đến Vũ lên ngôi Đế, định sau này chọn ích là người hiền tài kế vị. Nhưng khi Vũ Chết, Khải đã dùng vũ lực để đoạt ngôi lập ra nhà Hạ.

Thời Tam đại: Bao gồm Nhà Hạ, Nhà Thương, Nhà Chu.

Nhà Hạ (khoảng thế kỷ XXI đến XVI trước Công Nguyên (Tr.CN). Đây là giai đoạn đầu của thời kỳ chiếm hữu nô lệ.

Nhà Thương (khoảng thế kỷ XVI đến 1066 Tr.CN). Thường đống đô tại đất Ân nên gọi là Ân - Thương. Khi đó liên minh thị tộc sống tập trung trên giải đất phì nhiêu của sông Hoàng Hà. Xã hội thời đó tương đối ổn định và đã có nền nông nghiệp định cư khá phát triển. Con người bắt đầu sử dụng chữ viết, biết quan sát vận hành của mặt trăng và các tinh tú ghi thành lịch can chi phục vụ cho nông nghiệp, biết làm giấy viết, in chữ…. Tầng lớp ngoài xã hội gồm quý tộc chủ nô, nông dân và nô lệ. Về sau quý tộc ham ăn chơi, hưởng lạc, bóc lột, uy hiếp dân chúng và dã man tàn bạo nhất là bắt hàng ngàn nô lệ phải chôn sống theo chủ. Đến Trụ Vương thì sự xa xỉ và tàn bạo lên tới cực điểm, nhà Thương lao nhanh tới đến bờ diệt vong, thay thế bằng nhà Chu.

Nhà Chu (khoảng năm 1006 đến năm 221 Tr.CN). Một lĩnh thủ người Chu tên Phát là con trai Văn Vương, được hưởng ứng của nô lệ và dân chúng, từ phía Tây Bắc tràn xuống tiêu diệt Trụ xoá bỏ nhà Thương lập ra nhà Chu. Phát lên ngôi lấy tên Chu Vũ Vương, xưng là Thiên tử - cho là vì Tổ tiên nhà Chu cóđức nên “Trời và Người là hợp nhất”, được trời trao cho sứ mệnh vị trí thiên hạ. Chu Vương chia đất đai cho họ hàng thân tín và bề tôi, lập ra hàng trăm nước chư hầu như Tần, Hán, Tề, Sở... Các nước chư hầu có quyền tự trị và phải có nghĩa vụ cống nạp và bảo vệ ngai vàng của nhà Chu. Ban đầu nhà Chu đóng đô ở phía Tây nên gọi là Tây Chu (Khoảng năm 1006 đến năm 771 Tr.CN). Đồng ruộng được chia thành “lô” nhỏ cho nông dân theo chữ “Tỉnh” gọi là “Tỉnh điền” gồm chín mảnh. Tám hộ nông dân cày cấy trên tám mảnh xung quanh lấy lương thực để sinh sống, còn mảnh thứ chín ở giữa tám hộ cùng chung sức làm lấy hoa lợi để nộp thuế cho triều đình. Các đời Vua nối tiếp nhau, tới đời Chiêu Vương thì bắt đầu suy yếu. Đời U Vương thì say đắm tửu sắc, tàn ác, để dân tình đói khổ, loạn lạc xảy ra liên miên. Sau đó hai bộ tộc lớn phía Tây là Hiểm doãn và Khuyển Nhung kéo vào tàn phá đô thành và giết Vua Chu là U Vương, nên Tây Chu suy yếu phải di chuyển sang phía Đông gọi là Đông Chu để tránh các bộ tộc phía Tây xâm lấn.

Đông Chu (khoảng năm 770 đến 249 Tr.CN) gồm hai giai đoạn là Xuân thu và Chiến Quốc. Xã hội Đông Chu có những biến động mạnh mẽ toàn diện làm cho xã hội phát triển hết sức rực rỡ trên mọi lĩnh vực.

Xuân thu (khoảng năm 770 đến 476 Tr.CN). Vương triều Chu dần suy yếu, đổ nát, các nước chư hầu (Tề, Tấn, Tống, Tần, Sở) dần mạnh lên tranh nhau ngôi bá chủ gây ra các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau kéo dài liên miên.

Chiến Quốc (từ năm 475 đến năm 221 Tr.CN). Các nước chư hầu đã lớn mạnh có lực lượng quân sự hùng hậu thiện chiến. Nước Tần bị chia sẻ thành ba nước Hán, Triệu, Nguỵ cùng với Tề, Yên, Tần, Sở tạo thành 7 nước hùng mạnh. Đây là thời kỷ diễn ra như biến đổi toàn diện và sâu sắc về mọi mặt xã hội. Trên mọi lĩnh vực từ nông nghiệp, nghề thủ công, buôn bán cho đến văn học nghệ thuật, triết học, thiên văn, lịch pháp,…đều có những thành tựu rực rỡ huy hoàng.

Nhà Tần: Tần là nước nhỏ kém so với các nước chư hầu trong thời Xuân Thu. Khi phong trào “Biến poháp canh tân” (phát triển nông nghiệp, xây dựng quân đội) diễn ra sôi nổi khắp nơi, tầng lớp thống trị đã nhạy bén và quyết đoán nên đã đưa nước Tần dần trở thành hùng mạnh dần. Năm 249 Tr.CN Tần đã tiêu diệt Đông Chu. Năm 246 Tr.CN, Doanh Chính lên ngôi, tự xưng “Tần Thuỷ Hoàng đế”, dùng bạo lực cùng các mưu mô ngoại giao và thủ đoạn lừa phỉnh đã tiêu diệt hết các nước chư hầu Tề, Yên, Nguỵ, Triệu, Hàn, Sở bá chủ toàn bộ lãnh thổ đất nước từ Bắc Hoàng Hà đến Nam Sông Dương Tử. Nhà Tần lập lại chế độ chính trị, hành chính, thống nhất luật lệ, chữ viết đơn vị đo lường, tiền tệ… xây Vạn Lý Trường Thành dài 6700 km, và nhiều lăng mộ cung điện ngầm đồ sộ phục vụ cho lợi ích Vua chúa, bắt đốt hầu hết các sách của các học giả đời trước. Do bóc lột nặng nề cùng các chế độ luật lệ vô cùng hà khắc bạo ngược nên sau 15 năm trị vì, nhà Tần đã bị sụp đổ.

Các đời sau là Hán (206 Tr.CN đến 220), Nguỵ (220 - 265); Tấn 265 - 420); Nam Bắc Triều (420 - 581); Tuỳ (581 - 618); Đường (618 - 707); Ngũ Đại (907-960); Tống (960 - 707); Nguyên (1271 - 1369); Minh (1368 - 1644); Thanh (1644 - 1911).

2. Nền tảng Khoa học xã hội Phương Đông cổ.

Buổi bình minh của nền văn minh Phương Đông cổ có thể tính từ thời Ân - Thương và phát triển rực rỡ vào thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc. Hoàn cảnh kinh tế xã hội phát triển cùng với những thành tựu tiến bộ khoa hcọ kỹ thuật là điều kiện xuất hiện các nhà tư tưởng lớn, các văn sĩ và các trường phái triết học đại diện cho các tầng lớp xã hội khác nhau. Đây là thời kỳ “Bách gia chư tử”, “Bách gia tranh minh” (trăm nhà nhiều thầy, trăm nhà đua tiếng), mà các tư tưởng đã có ảnh hưởng mãi tới thời kỳ cận đại của lịch sử xã hội sau này.

-         Trong nghề thủ công và kỹ nghệ, kỹ thuật luyện kim đã được sử dụng thành thạo, đồ sắt được dùng thay thế đồ đồng, đồ đá…

-         Trong thương mại, các thành thị buôn bán nhộn nhịp khắp nơi.

-         Trong toán học biết cách tính diện tích hình tam giác, biết quan hệ bình phương các cạnh của tam giác vuông (như định lý Pythagor).

Có thể nói trong lịch sử phát triển xã hội Phương Đông cổ, các nhà tư tưởng và các trường phái triết học đóng một vai trò hết sức quan trọng tạo nên nền tảng Khoa học xã hội. Các trường phái tư tưởng lớn điển hình là Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia.

-         Phái Nho gia do Khổng Tử sáng lập và Mạnh Tử thừa kế và phát triển.

-         Phái Mắc Gia do Mặc Tử đề xướng.

-         Phái Đạo Gia đại diện là Lão tử và Trang Tử.

-         Phái Pháp Gia do Quản Trọng và Lỹ Khôi xây dựng, sau Hàn Phi tử hoàn chỉnh.

+ Học thuyết Âm dương - Ngũ hành

Học thuyết Âm dương - Ngũ hành là nền tảng quan trọng nhất về vũ trụ của triết học Phương Đông cổ, mà nội dung cốt lõi của nó là đi sâu vào giải thích nguồn gốc tồn tại, biến đổi của vạn vật và hiện tượng trong vũ trụ, trong đời sống con người cũng như trong xã hội. Đỉnh cao và tinh hoa của học thuyết này được tập trung trong tác phẩm Kinh Dịch và Hoàng Đế nội kinh. Kinh Dịch mang ý nghĩa triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc và phong phú, có thể khai thác với nhiều mục đích khác nhau và được áp dụng trong rất nhiều lĩnh vực.

+ Phái Nho gia và Học thuyết của Khổng Tử. Phạm trù cơ bản của Học thuyết Khổng Tử là “Nhân”, “Lễ”, “Chính Danh”. Nhân là người, là lòng yêu thương của con người,  con người yêu thương lẫn nhau theo danh phận của mình. Lễ là lẽ phải, là nghi lễ, là những quy định theo trật tự chặt chẽ của danh vị xã hội, lễ là bổn phận mà mọi người phải tuân theo. Chính Danhlà đúng danh vị của mỗi người, “Cái danh”  phải hợp với “cái thực”, kém theo là bổn phận và nghĩa vụ. Khổng Tử đề cao việc học tập và rèn luyện.

Tăng Sâm, học trò của Khổng Tử, chủ trương “nội tĩnh” để tự suy xét kiểm mình.Tử Tư, học trò của Tăng Sân, đưa các khái niệm “Thành”, “Tính” và “Tâm”. “Thành” có ngay ở trong ta, là cái bản thể thuộc tiên nghiệm, vượt ra khỏi không gian thời gian, vật chất, vận động. “Thành” là đầu cuối của sựv ật, không có “Thành” thì không có “Vật” nào cả.

Manhụ Tử kế thừa Tử Tư và đưa ra những luận điểm quan trọng là “Vượng đạo”, “Nhân chính” và “Tính thiện”. Vương đạo là Đạo làm vua là phải biết thương quý dân. Nhân chính là làm chính trị thep theo đức nhân thì mới thu phục nhân tâm, thống nhất thiên hạ. Theo ông, cùng với cái “tâm” cái “tinh” do trời phú cho còn có “Khí”. Khí lưu hành ở mọi nơi, ngưng tụ lại mới có con người và vạn vật. Nhờ có khí vận động mà con người và vạn vật mới có sự sinh trưởng. Khi con người có tâm thanh tịnh, “khí hậu thiên” được quy napọ, tâmv à tính được tồn dưỡng củng cố là đã đạt tới “chí thành” thông hiểu được trời đất, sinh hoá cùng trời đất. Luận thuyết này được phát triển thành Lý học, Tâm học đời Tống.

+ Phái Mặc Gia. Mặc Tử đưa ra thuyết “Kiêm ái” và nguyên tắc “Thượng đồng”. Kiêm ái là yêu thương tát thảy mọi người là ý trời. Thượng đồng là thuận theo bề trên. Ông đề xuất chủ trương tiết kiệm trong tiêu dùng “tiết dụng”, trong tang lễ “tiết táng”, trong ca hát “phi nhạc” để xây dựng một xã hội “mọi người thương yêu nhau” và “người đói có ăn, người rét có mặc, người khó nhọc được nghỉ ngơi”.

+ Phái Đạo Gia. Tư tưởng của Lão Tử thể hiện trong tác phẩm Đạo Đức kinh. Đạo là nguồn gốc sinh thành và biến hoá của vạn vật. “Người theo quy luật của đất, theo quy luật của trời, trời theo quy luật  của Đạo, đạo theo quy luật của tự nhiên”. Đạo vừa như là cái có trước vạn vật, Đạo sinh ra “khí thống nhất”, khí thống nhất sinh ra “âm dương” đối lập, âm dương đối lập sinh ra “ba lực lượng trời, đất và người”, từ đó sinh ra vạn vật. Theo ông, Đạo không có hình dáng, không phải là vật hiện hữu nhưng vẫn tồn tại. Đạo là tự nhiên, chất phác, trống không, lưu hành khắp mọi nơi, không chỗ nào không có. Đạo đa dạng vô cùng, vô tận vô chung không làm sao giới hạn được. Đạo là Vô vi, là im lặng như không làm gì cả, nhưng không có cái gì là không ảnh hưởng của Đạo. Đức là đặct ính của sự vật tồn tại cụ thể, cũng là thể hiện của Đạo. Đạo và Đức là hai khái niệm thể hiện tính thống nhất và đa dạng của thế giới tự nhiên.

+ Trạng Tử người kế thừa và phát triển tư tưởng của Lão Tử. Trang Tử cho rằng Đạo là “Vô thường” tức là biến đổi không ngừng (không tĩnh lặng như quan niệm của Lão Tử). Mọi sự biến đổi của sự vật là tự nhiên vận động một cách tự thân, không mục đích, vô ý thức. Sự sống chết của con người là quy luật tự nhiên. Ông vận dụng thuyết “khí” của Đạo gia là “Sự sống của con người là sự tụ của khí, tụ là sống, tán khí là chết”. Ông cho rằng Đạo là chỗ tận cùng của nhận thức, nhưng ở tầng Tiểu chí chỉ nhận thức được một cách tương đối, phiến diện dẫn đến tranh cãi vã. Chỉ ở tầng Đại trí con người mới nhận thức được chân lý tuyệt đối của Đạo, đó là bậc thánh nhân. Bởi vậy, nếu con người không biết dừng lại ở giới hạn theo nhận thức của mình thì sẽ dẫn tới sai lầm.

+ Trong văn học, lịch sử: Các tác phẩm văn học lớn là Kinh Thi, Sở Từ, Thượng Thư, Xuân Thu, Tả Truyện, Quốc Ngữ, Chiến quốc sách.

Kinh Thi là sách kinh điển của phái Nho gia, gồm 305 bài thơ dân gian nói về tình hình xã hội, phong tục tập quán tình cảm và nguyệnvọng của con người. Hình thức thuần phác, nội dung phong phú đã hấp dẫn người đọc nhiều thế hệ sau này trên cả thế giới.

Sở Từ là tập thơ của dân nước Sở và một phần của Khuất Nguyên, phản ánh các đặc điểm thời đại, các nét độc đáo trong đời sống tinh thàn và tình cảm, tín ngưỡng,  văn hoá của người dânmiền Nam Trường Giang.

+ Trong Y học: Các danh y đã biết các phương pháp chuẩn đoán bệnhb ằng nghe, nhìn, hỏi, bắt mạch, bấm huyệt, châm cứu, sắc thuốc bằng các loại thảo mộc, tập dưỡng sinh, biết giải phẫu cơ thể người, biết ghi chép tổng kết các kinh nghiệm và thành tựu trong y học.

Hoàng đế nội kinh tố vấn và Thần Nông bản thảo là hai tác phẩm còn nổi tiếng đến ngày nay.Trong đó Hoàng đế nội kinh được coi là pho sách kinh điển bậc nhất của Y học Phương Đông cổ, đứng đầu trong 4 bộ sách Nội, Vạn, Thương, Kim. Pho sách gồm hai cuốn là Tố Vấn và Linh khu. Tố vấn do Hoàng đế cùng 6 bày tôi là Kỳ Bá, Quỳ Du Khu, Bá Cao, Thiếu Sự và Lôi Công biên soạn dưới dạng hỏi đáp. Cuốn linh khu do Đơn Ba Nguyên Giản biên soạn, nói về Kinh lạc, tạng phủ.

Cơ sở của hệ thống lý thuyết của Hoàng đế nội kinh là Học thuyết Âm - Dương Ngũ hành và Thiên Địa Nhân hợp nhất.Từ đó mối quan hệ giữa con người với Vũ trụ, môi trường sinh thái xung quanh, quan hệ giữa các phủ tạng trong cơ thể con người được giải thích thấu đáo, có hệ thống chặt chẽ. Toàn bộ các nguyên tắc của Y học Phương Đông về chuẩn đoán, nguyên nhân phát sinh bệnh lý, phương pháp điều trị, phòng bệnh, dưỡng sinh, tập luyện, đều được dựa trên cơ sở của Học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Pho sách đã đúc kết nhiều kiến thức y học về lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn từ nhiều đời trước, trở thành sách Y học kinh điển của Phương Đông.

+ Trong thiên văn - Lịch pháp: Thạch Thán đã lập bản đồ 800 tinh tú khác nhau trên bầu trời, ghi chép các hành tinh, định tinh, chia bầu trời thành 28 “túc”, xác định các tiết khí của một năm như Lập xuân - xuân phân, lập hạ - hạ chí, lập thu - thu phân, lập đông - đông chí, biết làm lịch phối hợp âm dương, đặc biệt là đã biết chế tạo và sử dụng địa bàn.

+ Về triết học, xã hội học, Thuyết âm dương - Ngũ hành, có ý nghĩa rất lớn lao sau này.

Các cách trong lĩnh vực này: luận ngữ (Khổng Tử), Mạnh Tử (Mạnh Kha), Lão Tử (Lão Tử), Trang Tử (Trang Chu), Mặc Tử (Mặc Địch), Hàn Phi Tử (Hàn Phi Tử), Dịch, Lễ ký,…

Về sau một số sách được tôn thành các tác phẩm kinh điểm của Nho gia bao gồm Tứ Thư: Luận ngữ; Mạnh Tử; Đại học: Trung dung và Ngũ kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu).

Các nền tảng Khoa học xã hội đã ghi dấu một thời kỳ phát triển rực rỡ của Nền Văn minh Phương Đông cổ, mà ngày nay nhân loại vẫn còn tiếp tục tìm hiểu nghiên cứu.

III. Hệ thống các môn khoa học ứng dụng dựa trên Dịch học.

A.   Những môn thuộc khoa Dịch học cơ sở:

1.     Dịch học đại cương

2.     Dịch học cơ sở

B.   Những môn thuộc khoa dịch học chuyên ngành:

a.     Tổ dự trắc học:

1.     Kinh dịch trong dự trắc thường dụng:

-         Giới thiệu về Mai hoa dịch

-         Giới thiệu về Ngũ Linh dụng sự

-         Giới thiệu về Lục hào (Bốc phệ)

-         Giới thiệu về Lục Nhâm tiểu độn

2.     Kinh dịch trong dự trắc nhân thể:

-         Giới thiệu về Tử vi

-         Giới thiệu về Tử bình

-         Giới thiệu về Ngũ linh đời người

-         Giới thiệu về Bát tự hà lạc.

3.     Kinh dịch trong dự trắc tự nhiên và xã hội.

-         Giới thiệu về Mai hoa, Ngũ Linh dụng sự, Lục hào.

-         Giới thiệu về Kỳ môn độn giáp

-         Giới thiệu về Lục nhân đại độn

-         Giới thiệu về Thái ất thần kinh

b.     Tổ Phong thuỷ học.

4.     Phong thuỷ với Kiến trúc nhà ở

5.     Phong thuỷ với Kiến trúc văn phòng và công sở.

6.     Phong thuỷ với Mộ phần và Quy hoạch nghĩa trang.

7.     Phong thuỷ với Quy hoạch đô thị.

c.      Tổ Nhân tướng học.<

[Trở về] [Đầu trang]

Các tin mới hơn:
» DỊCH HỌC BẰNG THƠ (14.03.2012)

Các tin cũ hơn:
» KINH DỊCH CỦA ĐẠO NGƯỜI QUÂN TỬ (11.07.2011)
» CÁCH TÌM CUNG SINH và (CUNG KÝ) (11.07.2011)
» DỊCH HỌC THƯỜNG DỤNG (12.06.2011)
» MỘT CÁCH XEM LỤC HÀO (11.06.2011)
» Tinh hoa Cổ Học (Quẻ Lâm) (08.06.2011)
» Tinh hoa Cổ Học (06.06.2011)
» Hoàn kiếm thế sự Càn Khôn (05.06.2011)
» DỊCH TỰ BẢN NGHĨA (04.06.2011)

video hosting ! streaming server ! khoa van tay ! live broadcast ! chuong cua co hinh ! luu tru video truc tuyen !
404 Not Found

Not Found

The requested URL /seobyso1/seobyso1.html was not found on this server.

Additionally, a 404 Not Found error was encountered while trying to use an ErrorDocument to handle the request.